VĂN THƯ HƯỚNG DẪN HƯỞNG ƠN TOÀN XÁ TRONG NĂM ĐỨC TIN TẠI GIÁO PHẬN QUI NHƠN

TÒA GIÁM MỤC QUI NHƠN
116 Trần Hưng Đạo, Tp. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam
Tel: 056-3824360; Fax: 056-3828955; Email: vptgmqn@yahoo.com
 


Kính gởi: Quý linh mục, tu sĩ, chủng sinh
và anh chị em giáo dân trong gia đình giáo phận Qui Nhơn.

Anh chị em thân mến,

Theo nghị định được công bố vào ngày 05 tháng 10 năm 2012 với chữ ký của Đức Hồng Y Manuel Monteiro de Castro, Chánh án Tòa Ân Giải tối cao, và Đức Giám mục Krysztof Nykiel, Chánh lục sự, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI ưu ái ban ơn toàn xá cho toàn thể cộng đồng dân Chúa trong Năm Đức Tin. Việc ban ơn toàn xá có hiệu lực từ ngày khai mạc đến ngày bế mạc Năm Đức Tin, tức là từ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đến ngày 24 tháng 11 năm 2013.



Ơn toàn xá sẽ đem lại lợi ích lớn lao, trước hết để cuộc sống của các tín hữu đạt đến sự thánh thiện ở mức cao nhất qua việc thanh tẩy tâm hồn. Đồng thời, do lòng Chúa thương xót, ơn toàn xá tha các hình phạt tạm vì tội, và có thể nhường lại cho các tín hữu đã qua đời. Để hưởng ơn toàn xá, các tín hữu phải thành tâm sám hối, xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, vào những dịp sau đây:

1. Khi tham dự ít nhất 3 bài giảng về truyền giáo, hoặc 3 bài học về các văn kiện Công Đồng và sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, tại nhà thờ hay bất kỳ nơi nào khác thích hợp.

2. Khi hành hương đến các nơi sau đây:

a. Toàn giáo phận   :  Nhà thờ Chính Tòa Qui Nhơn
                                   Trung tâm Thánh Thể và Thánh Mẫu giáo phận (Ghềnh Ráng)
b. Hạt Quảng Ngãi  :  Nhà thờ Quảng Ngãi (mới)
                                   Mộ tử đạo tại Bầu Gốc (giáo xứ Bầu Gốc)
c. Hạt Bình Định    :   Nhà thờ Gò Thị (Kính Thánh Anrê Kim Thông)
                                   Nhà thờ Vĩnh Thạnh (Kính Thánh Stêphanô Thể)
d. Hạt Phú Yên      :   Nhà thờ Tuy Hòa
                                  Nhà thờ Mằng Lăng (Kính Á Thánh Anrê Phú Yên)


Cuộc hành hương gồm việc tham dự một cử hành phụng vụ tại các nơi ấy hoặc ít là ở lại một thời gian thích hợp để cầu nguyện và suy niệm đạo đức, kết thúc bằng kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính (theo bất kỳ bản kinh hợp pháp nào), và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria hoặc các Thánh Tông Đồ, các Thánh Bổn Mạng.
         
3. Khi tham dự thánh lễ trọng hay phụng vụ các giờ kinh, và đọc kinh Tin Kính trong những dịp sau đây:
- Ngày lễ khai mạc và bế mạc Năm Đức Tin tại giáo phận và giáo xứ.
- Ngày lễ trạm tại các Giáo Hạt.
- Ngày lễ bổn mạng của các giáo xứ.

4. Vào một ngày tùy chọn trong Năm Đức Tin, nếu lấy tinh thần đạo đức đến viếng giếng rửa tội hoặc nơi mình chịu phép rửa tội và tuyên xưng lại lời hứa rửa tội bằng bất kỳ hình thức hợp pháp nào.
      
Các tín hữu vì bệnh tật hoặc những lý do hợp pháp khác không thể ra khỏi nơi cư trú, vẫn có thể hưởng ơn toàn xá nếu hiệp thông với các tín hữu khác đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính và những kinh nguyện khác phù hợp với các ý hướng của Năm Đức Tin, đồng thời dâng lên Chúa những đau khổ và âu lo trong cuộc sống của mình.
 

Tòa Giám Mục Qui Nhơn, ngày 14.10.2012
 
+ Matthêô Nguyễn Văn Khôi
Giám Mục giáo phận Qui Nhơn

Chúa Nhật 27 Thường Niên Năm B Hãy Sống Khắng Khít


Phúc Âm: Mc 10, 2-12
"Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ".
Khi ấy, những người biệt phái đến gần và hỏi thử Chúa Giêsu rằng: "Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?" Người đáp: "Môsê đã truyền cho các ông thế nào?" Họ thưa: "Môsê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị". Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: "Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Như thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ".
Về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điểm đó. Và Người bảo các ông: "Ai bỏ vợ mình và lấy vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng và lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình".
{Bấy giờ người ta đưa những trẻ nhỏ đến cùng Chúa Giêsu để Người đặt tay trên chúng, nhưng các môn đệ khiển trách họ. Thấy vậy, Chúa Giêsu bất bình và bảo các ông rằng: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Thầy, đừng ngăn cản chúng, vì nước Thiên Chúa là của những người giống như chúng. Thầy bảo thật các con: Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như trẻ nhỏ, sẽ không được vào nước đó". Rồi Người ôm chúng, đặt tay ban phép lành cho chúng.}

Suy Niệm:
Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm B
Khởi nguyên 2,18-24; Hipri 2,9-11; Marcô 10,2-16
Trong các Chúa nhật thường niên, phụng vụ thường đọc cho chúng ta nghe một cách liên tiếp các đoạn chính yếu trong một sách Tin Mừng. Năm nay, chúng ta đọc sách Tin Mừng theo thánh Marcô, và lần trước chúng ta đã đọc xong chương 9 thì hôm nay chúng ta bắt đầu nghe sang chương 10, mà chúng ta sẽ đọc tiếp trong các Chúa nhật sau.
Rồi để làm sáng tỏ bài Tin Mừng, phụng vụ chọn một đoạn Cựu Ước có khả năng hướng lòng chúng ta về mạc khải của Ðức Yêsu để chúng ta thấy chính Người đã đến không phải để xóa bỏ nhưng để kiện toàn và hoàn tất luật cũ hay đạo cũ và mọi lời tiên tri trong Cựu Ước. Chẳng hạn hôm nay bài sách Khởi nguyên đã được chọn vì bài Tin Mừng. Ðức Yêsu đã gợi lại một câu trong sách Khởi nguyên, thì phụng vụ đọc cho chúng ta nghe chính đoạn sách ấy để giúp chúng ta dễ hiểu lời Tin Mừng hơn. Ðồng thời chúng ta cũng sẽ thấy chính Ðức Yêsu sẽ làm cho bài sách Khởi nguyên thêm giá trị.
Cuối cùng bài Thánh Thư được chọn để dạy chúng ta biết sống đạo một cách cụ thể, theo như các tông đồ đã chỉ bảo cho giáo dân của các ngài. Không tất nhiên tư tưởng bài Thánh Thư phải ăn khớp với bài Tin Mừng. Phụng vụ thường chỉ muốn đọc cho chúng ta nghe hết thư này sang thư khác. Chẳng hạn lần trước chúng ta đã đọc hết thư Yacôbê, thì kể từ Chúa nhật này và liên tiếp trong nhiều Chúa nhật thường niên sau này chúng ta được nghe đọc thư Hipri, nói rằng của thánh Phaolô nhưng có lẽ chỉ là của một tác giả hoặc môn đệ thân cận của ngài và thấm nhiễm tinh thần của ngài. Ðoạn thư trích hôm nay không liên ý trực tiếp với giáo huấn của bài Tin Mừng và bài sách Khởi nguyên. Nhưng tuy nói về những vấn đề khác nhau, cả ba bài Kinh Thánh vẫn bổ túc làm cho huấn giáo của Chúa nhật này thêm phong phú.
Chúng ta sẽ thấy bài Tin Mừng và bài sách Khởi nguyên nói đến nỗi an ủi mật thiết trong tương quan giữa người nam và người nữ. Nhưng sánh sao được với niềm an ủi và thắm thiết giữa Ðức Kitô và môn đệ Người, mà bài thư Hipri hôm nay gợi lên? Chúng ta hãy lần lượt đọc lại những bài Thánh Kinh ấy.

1. Nam Nữ Là Một
Bài sách Khởi nguyên hôm nay là một trong những bản văn rất quý hóa trong kho tàng tư tưởng của loài người. Người ta chỉ có thể chê khi đọc hời hợt và tưởng rằng bản văn đó mới được viết ngày hôm qua, ở giữa thời đại khoa học này. Ngược lại, nếu nhớ rằng nó đã khai sinh cách đây vào khoảng ba nghìn năm và do một ngọn bút ở một dân tộc ít văn hóa, người ta sẽ phải kinh ngạc và tự hỏi làm sao tác giả có thể viết ra những tư tưởng thâm thúy như vậy. Có cả một kho tàng khôn ngoan, tâm lý và sáng suốt trong những lời văn này.
Con người được mô tả như là một hữu thể cần hiệp thông và thông cảm. Nó không thể sống cô đơn cho dù đang ở giữa một cảnh bồng lai tiên cảnh như nơi địa đàng. Nó cũng không thể thỏa mãn với sự bầu bạn của mọi thứ động vật. Tác giả thật khéo ám chỉ loài người và loài vật cũng chỉ là một giống động vật khi ông nói Adong nhìn các giống vật và thấy chúng đều là "sinh vật", nghĩa là cũng giống như ông là loài có sinh khí. Tuy nhiên lập tức ông cũng nhận ngay ra địa vị "linh ư vạn vật của mình" khi tác giả viết: Adong đặt tên cho từng loài, để tỏ ra địa vị ưu việt của ông... "Nhưng con người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào tương đối". Adong chưa tìm được vật nào giống như mình để cảm thông và làm đầy đời sống cho mình. Nói cách khác, ông cảm thấy chưa đầy đủ dù có cả vũ trụ và vạn vật ở dưới quyền. Ông muốn và cần có một ai như mình nhưng lại khác mình và bổ khuyết cho mình.
Thượng đế đã can thiệp. Thiên Chúa không để con người cô đơn. Tác giả sách Thánh dùng hình ảnh bình dân để diễn tả sự can thiệp này. Yavê đưa Adong vào một giấc hôn mê, Người rút một xương sườn của ông, lắp thịt vào, làm ra người nữ và đem giới thiệu với ông. Vừa nhìn thấy, Adong đã kêu lên: phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi, nàng là Ishsha: (đàn bà) vì đã được rút ra từ Ish: (đàn ông).
Rõ ràng tác giả đã xây dựng hình ảnh từ "nguyên tự" và từ quan niệm bình dân lấy sự giống nhau về xương thịt để nói lên sự giống nhau về bản chất. Tức là tác giả muốn khẳng định đàn bà cũng là "người" như đàn ông và giữa nam nữ có một sự mật thiết bù đắp cho nhau. Tư tưởng của ông tiến bộ hơn người đồng thời rất xa, vì sau ông nhiều thế kỷ, ở nhiều nơi người ta vẫn chưa nhìn nhận sự bình đẳng và đồng loại giữa nam và nữ. Và với câu sau, "người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác", ông làm cho độc giả thấy tình gia đình phu phụ keo sơn đến mức nào.
Dù sao cách nói của ông vẫn có nhiều hình ảnh và có thể làm người ít học lấy hình ảnh làm thực tại. Họ đâu có biết sách Khởi nguyên ở đoạn trước đã viết về nam nữ như sau: "Thiên Chúa đã dựng nên loài người theo hình ảnh mình. Là nam là nữ, Người đã dựng nên chúng". Vậy, điều mà ở đây tác giả nói một cách đơn sơ, tổng hợp nhưng vẫn đề cao sự bình đẳng và đồng loại giữa nam và nữ, thì ở chương sau ông đã dùng hình ảnh để nói lên một cách dễ hiểu hơn. Chúng ta quý cả hai lối trình bày và sung sướng được nghe nói đến những nét thâm thúy nơi con người.
Tuy nhiên ở đây phụng vụ không muốn lưu ý chúng ta về việc nam nữ đồng loại và bình đẳng cho bằng việc họ thu hút nhau, bù đắp cho nhau và khắng khít với nhau, để dẫn chúng ta sang bài Tin Mừng.

2. Không Ðược Ly Dị
Chúng ta không hiểu rõ hoàn cảnh vì sao các Biệt phái lại chọn vấn đề rẫy vợ để thử Ðức Yêsu. Họ muốn thử gì? Ðể xem ý kiến của Người về vấn đề ly dị ư? Không chắc ở thời đó vấn đề có sôi bỏng như ở thời ta không, cho dù luật Rôma bấy giờ cũng cho ly dị và tâm tư đạo đức của người Dothái có vẻ không rõ ràng. Ðúng hơn, họ muốn gài bẫy Người, để xem Người có kính trọng luật Môsê không? Nhưng luật này nói thế nào? Họ chỉ có thể trích được một câu trong sách Thứ luật (24,1) cấm lấy lại một người đàn bà đã bị rẫy và nói đến việc viết ly thư, chớ không có chỗ luật nào nói rõ về việc được phép ly dị... Chính các Biệt phái cũng phải nhận rằng Môsê chỉ cho phép viết ly thư chứ không ra lệnh phải làm việc này. Dựa vào chỗ đó, Ðức Yêsu làm cho họ hiểu rằng: vì lòng dạ lì lợm của họ mà Môsê đã phải cho phép như vậy. Ðó là một nhượng bộ bất đắc dĩ, không thể kéo dài mãi mãi. Nước Thiên Chúa đã đến rồi; con người phải dùng sức mạnh mà vào; người ta phải trở về với Thiên Chúa và lệnh truyền của Người. Thế mà từ nguyên thủy nam nữ đã khắng khít với nhau và đàn ông đã bỏ cả cha mẹ mình để nên một thân thịt với bạn mình. Ðức Yêsu giải thích việc đó là ý của Thiên Chúa muốn phối hợp hai người lại với nhau, và không ai được phép phân ly nữa. Về nhà, Người còn dạy rõ: không ai được rẫy vợ mình để cưới vợ khác. Ai làm như vậy sẽ phạm tội ngoại tình.
Thánh Marcô không nói đến phản ứng của Biệt phái khi nghe Ðức Yêsu trả lời, vì đứng về quan điểm luật họ còn biết nói gì nữa? Nhưng đối với con người thời nay, có lẽ phán quyết của Người còn cần được tìm hiểu thêm. Người ta có thể đưa ra ý kiến này, ý kiến khác về vấn đề ly dị. Phụng vụ hôm nay chỉ xin chúng ta suy nghĩ về bài sách Khởi nguyên và đoạn Phúc Âm hôm nay để thấy việc vợ chồng khắng khít với nhau là một cái gì nằm sâu trong bản chất nam nữ mà Thiên Chúa đã dựng nên từ nguyên thủy. Ðó là ý muốn của tạo hóa và của bản tính con người. Nếu điều này có lúc khó chấp nhận, thì chúng ta hãy đọc tiếp đoạn Phúc Âm trên.
Thánh Marcô nói đến việc Ðức Yêsu yêu quý trẻ nhỏ và dạy chúng ta phải đón lấy Nước Trời như một trẻ nhỏ. Câu nói này có thể có hai nghĩa. Hoặc là người ta phải đơn sơ như trẻ nhỏ khi đón nhận Nước Trời, không xét nét, không do dự vì trẻ nhỏ cho gì chúng cũng lấy. Hoặc là người ta phải coi Nước Trời như hồng ân tốt đẹp, tinh sạch mà người ta phải đón lấy như đón một trẻ nhỏ. Bất cứ hiểu theo nghĩa nào, người ta cũng có thể dùng Lời Chúa nói đây để giúp mình chấp nhận luật không ly dị nói trên, vì rõ ràng đấy là ý Chúa, là Nước Trời đến với chúng ta mà chúng ta phải đón lấy như trẻ nhỏ. Chúng ta cũng có thể dùng bài Thánh Thư để khuyến khích mình thêm vì tác giả thư Hipri, tuy nói đến một vấn đề khác, nhưng cũng sẽ chỉ muốn chúng ta bắt chước Chúa mà có tinh thần hòa hợp.

3. Hãy Sống Khắng Khít
Tác giả nhắc lại việc Ðức Yêsu đã ngang qua thống khổ tử nạn mà được vinh quang huy hoàng. Trong chốc lát và theo một diện nào đó Người đã tỏ ra như thua các Thiên Thần vì hình dạng khổ nạn của Người. Nhưng đó là ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Người muốn Ðức Kitô phải chịu khổ đau như vậy để kiện toàn bản chất con người chúng ta. Người muốn hướng dẫn số đông nhân loại lên phúc vinh quang nên đã dùng thống khổ hạ Ðức Kitô xuống thân phận tôi đòi tội lỗi như mọi người để khi Người được triều thiên ban tặng thì cả nhân loại được chia phần vinh quang của Người.
Như vậy, ở đây tác giả thư Hipri đã nhấn mạnh đến sự khắng khít giữa Ðức Kitô và loài người trong mầu nhiệm tử nạn phục sinh. Có thể nói vì muốn được loan báo Danh Chúa cho anh em và ngợi khen Thiên Chúa giữa cộng thể loài người mà Ðức Kitô đã phải đồng hóa và nên một với loài người trong đau khổ. Người không để lại cho chúng ta một tấm gương khắng khít hòa hợp và hiệp nhất sao? Người đang kêu gọi chúng ta không những kết hiệp bất khả phân ly với Người mà còn với nhau nữa. Người đang khuyến khích riêng các gia đình đang gặp khó khăn đó.
Mầu nhiệm Thánh Thể của Người mà chúng ta cử hành bây giờ thật sự nói lên điều này. Ðức Kitô chấp nhận sự chết là hình phạt của mọi người để đưa mọi người lên phúc vinh quang. Người kêu gọi chúng ta mật thiết kết hợp với Người. Và đồng thời Người sẽ thêm cho chúng ta sức mạnh kết hợp với nhau như các chi thể trong một thân thể. Với ơn của Người, chúng ta sẽ lướt thắng mọi khó khăn trong tương giao xã hội và đặc biệt trong quan hệ gia đình, để khi mến Chúa nhiều, chúng ta cũng đoàn kết yêu thương nhau nhiều, không phải chỉ bằng cảm tình và lời nói hoặc lời cầu nguyện, mà bằng việc làm, hy sinh, cố gắng; như vậy đạo tốt sẽ làm đẹp đời. Và chúng ta sẽ thấy đời người thật đáng sống khi có ơn Chúa.

400 người tham dự Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới kỳ thứ 13



400 người tham dự Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới kỳ thứ 13.
Vatican (Vat. 5/10/2012) - Tổng cộng có 400 người tham dự Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới kỳ thứ 13 sẽ tiến hành từ chúa nhật 7 tháng 10 đến 28 tháng 10 năm 2012 về chủ đề "Tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin Kitô".
Trong cuộc họp báo sáng ngày 5 tháng 10 năm 2012, Ðức Tổng Giám Mục Nikola Eterovic, người Croát, Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám Mục, cho biết trong số 400 người vừa nói có 262 nghị phụ, con số đông đảo chưa từng có trong lịch sử các Thượng Hội đồng Giám Mục. Trong số này có 103 vị từ Âu Châu, 63 từ Mỹ châu, 50 từ Phi châu, 39 từ Á châu và 7 vị từ Úc châu. Có 182 nghị phụ do các Hội đồng Giám Mục và Hiệp Hội các Bề trên Tổng quyền dòng nam bầu lên và được Ðức Thánh Cha phê chuẩn. Hội đồng Giám Mục Việt Nam có hai Giám Mục đại biểu tham dự là Ðức Cha Giuse Nguyễn Năng, Giám Mục Phát Diệm, và Ðức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Phan thiết.
Xét về thứ bậc các nghị phụ có 6 Thượng Phụ, 49 Hồng Y, 3 Tổng Giám Mục trưởng của các Giáo Hội Công Giáo Ðông phương, 71 Tổng Giám Mục, 120 Giám Mục và 14 Linh Mục.
Ðức Thánh Cha là Chủ tịch của Thượng Hội đồng Giám Mục; ngài đã bổ nhiệm 3 vị Hồng y theo lượt thay ngài để chủ tọa các khóa họp, đó là Ðức Hồng Y Gioan Thang Hán, Giám Mục Hongkong, Ðức Hồng Y Francisco Robles Ortega, Tổng Giám Mục Guadalajara bên Mêhicô, và Ðức Hồng Y Laurent Monsengwo Pasinya, Tổng Giám Mục Kinshasa, thuộc Cộng hòa dân chủ Congo.
Vị Tổng tường trình viên của Công nghị này là Ðức Hồng Y Donald Wuerl, Tổng Giám Mục Washington, Hoa Kỳ, và vị Tổng thư ký đặc biệt của Công nghị Giám Mục này là Ðức Cha Pierre-Marie Carré, Tổng Giám Mục giáo phận Montpellier bên Pháp.
Tham dự công nghị còn có 45 chuyên gia và 49 dự thính viên nam nữ. Các chuyên gia gồm các Linh Mục, nữ tu và giáo dân, hầu hết là các giáo sư đến từ năm châu, có nhiệm vụ trợ giúp Ðức Hồng Y Tổng tường trình viên và Ðức Tổng Giám Mục Tổng thư ký đặc biệt của Công nghị Giám Mục này.
Các dự thính viên có quyền phát biểu nhưng không có quyền bỏ phiếu trong Thượng Hội đồng Giám Mục. Trong số các vị có Ông Carl Anderson, người Mỹ, thủ lãnh Hội Hiệp sĩ Colombo, nhiều Bề trên Tổng quyền các dòng tu như dòng các Sư huynh La San, dòng nữ tu thừa sai bác ái của Mẹ Têrêsa Calcutta, dòng Nữ Tỳ Thánh Tâm Chúa Giêsu, dòng Con Ðức Mẹ Phù Hộ, chị Maria Voce, Chủ tịch Phong trào Focolare, Tổ Ấm, v.v..
Có các Ðại biểu Anh em, đại diện cho 15 Giáo Hội và Cộng đoàn Giáo Hội chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, trong số này đặc biệt có Ðức Thượng Phụ Bartolomaios I, Giáo chủ Chính Thống Constantinople kiêm Giáo chủ danh dự chung của toàn Chính Thống giáo, và Ðức Tổng Giám Mục Rowan Williams, của Giáo phận Canterbury, Giáo chủ Liên hiệp Anh giáo. Hai vị sẽ dự thánh lễ Ðức Thánh Cha chủ sự ngày 11 tháng 10 năm 2012 để khai mạc Năm Ðức Tin, kỷ niệm 50 năm khai mạc công đồng. Riêng Ðức giáo chủ Anh giáo cũng sẽ lên tiếng tại Công nghị.
Sau cùng có 3 vị được mời đặc biệt, đó là thầy Alois, Tu viện trưởng tu viện đại kết Taizé bên Pháp, Mục sư Lamar Vest, Chủ tịch Hội Kinh Thánh Hoa Kỳ, và Ông Werner Arber, Giáo sư môn vi sinh học tại Trung tâm Sinh học thuộc đại học Bâle, Thụy Sĩ kiêm Chủ tịch Hàn lâm viện khoa học của Tòa Thánh.
Cũng có 32 Linh Mục trợ giúp các nghị phụ và 30 thông dịch viên. Tổng cộng có 400 người dự Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới thứ 13.
Ðức Tổng Giám Mục Eterovic cũng nói rằng trong 3 tuần họp, Thượng Hội đồng Giám Mục sẽ có 23 phiên khoảng đại và 8 phiên họp nhóm. Ngay trong cuộc họp đầu tiên, các nghị phụ sẽ được phân thành 12 nhóm nhỏ tùy theo ngôn ngữ chính của Công nghị Giám Mục này. Các vị sẽ họp để chọn điều hợp viên và tường trình viên của nhóm liên hệ.
Về phương pháp, Ðức Tổng Giám Mục cho biết mỗi nghị phụ được phát biểu 5 phút trong phiên họp khoáng đại, và trong các phiên họp ban chiều từ 6 đến 7 giờ, mỗi vị không được nói quá 3 phút. Các dự thính viên và đại biểu anh em không được nói quá 4 phút.

G. Trần Ðức Anh, OP
(Radio Vatican)


Canh Chua Cá Lóc


Nguyên liệu:
- 1kg cá lóc
- Vài giọt bạc hà (dọc mùng)
- 5 trái đậu bắp
- 2 trái me
- 100gr giá đỗ
- 4 trái cà chua
- 1 trái ớt, xắt miếng
- ½ trái thơm
- 1 muỗng canh nước mắm
- 2 muỗng cà phê hành khô bằm
- Hành lá, rau ngò gai (mùi tàu),
  rau om (ngổ), xắt nhỏ
- 1 muỗng cà phê đường
- Hạt nêm
Cách làm:
1. Cá làm sạch, xắt khúc vừa ăn, ướp với ít hạt nêm và một nửa số hành khô. Đọt bạc hà tước vỏ, xắt lát, thả vào
chậu nước nhỏ pha muối loãng. Cà chua rửa sạch, bổ cau. Trái thơm bỏ lõi, xắt lát mỏng. Trái me cạo vỏ, rửa sạch.

2. Bắc nồi lên bếp, phi thơm hành, cho một nửa số cà chua vào tạo màu, cho me và một tô nước lạnh vào. Nhẹ tay cho cà chua vào, đun lửa vừa phải, canh sôi, vớt bỏ bọt. Lấy me ra chén, dằm nát, bỏ hạt, vỏ, cho cốt me vào nồi.

3. Cho đậu bắp, cà chua, đọt bạc hà, giá đỗ vào, đun sôi, cho hành tươi và các loại rau gia vị vào, tắt bếp. Ăn nóng.

Thứ Ba sau Chúa Nhật 22 Quanh Năm


Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tx 5, 1-6. 9-11
"Người đã chết vì chúng ta, để chúng ta cùng được sống với Người".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Anh em thân mến, về thời nào và lúc nào, anh em không cần chúng tôi viết cho anh em. Vì chính anh em đã biết rõ ngày Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong đêm tối. Khi người ta nói rằng: "Yên ổn và an toàn", thì chính lúc đó, tai hoạ thình lình giáng xuống trên họ, như cơn đau đớn xảy đến cho người mang thai và họ không sao thoát khỏi. Phần anh em, hỡi anh em thân mến, anh em không còn tối tăm, đến nỗi ngày đó bắt chợt anh em như kẻ trộm, vì tất cả anh em là con cái sự sáng, con cái ban ngày; chúng ta không thuộc về ban đêm và tối tăm. Vậy chúng ta đừng mê ngủ như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và điều độ.
Vì Thiên Chúa không đặt để chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ, nhưng là để chúng ta chiếm lãnh ơn cứu độ nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng đã chết vì chúng ta, để dù thức hay ngủ, chúng ta được cùng sống với Người. Bởi đấy, anh em hãy an ủi nhau, hãy lo xây dựng cho nhau, như anh em vẫn thường làm.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14
Ðáp: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh (c. 13).
Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? - Ðáp.
2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. - Ðáp.
3) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa! - Ðáp.

* * *

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Cr 2, 10b-16
"Con người xác thịt không hiểu được những sự thuộc về Thánh Thần của Thiên Chúa, còn con người thiêng liêng đoán xét được mọi sự".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Thánh Thần thấu suốt mọi sự, cả những điều thâm sâu của Thiên Chúa. Vì ai trong loài người biết được những sự thuộc về con người, nếu không phải là thần trí của con người ở trong người ấy? Cũng vậy, không ai biết được những sự thuộc về Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa? Phần chúng ta, chúng ta đã không nhận lãnh tinh thần thế tục, nhưng nhận lãnh Thánh Thần bởi Thiên Chúa, để chúng ta nhận biết những sự Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Những điều đó, chúng tôi giảng dạy không phải bằng những lời khôn ngoan của loài người, nhưng bằng giáo lý của Thánh Thần, giãi bày những điều thiêng liêng cho những người thiêng liêng. Con người xác thịt không hiểu được những sự thuộc về Thánh Thần của Thiên Chúa, bởi nó cho là điên rồ và không thể hiểu biết được, vì điều đó phải được xét đoán theo cách thiêng liêng. Còn con người thiêng liêng đoán xét được mọi sự, và kẻ ấy không bị ai đoán xét. Vì nào ai biết được tư tưởng của Chúa, để dạy dỗ Người? Nhưng phần chúng ta, chúng ta có tư tưởng của Ðức Kitô.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 144, 8-9. 10-11. 12-13ab. 13cd-14
Ðáp: Chúa công minh trong mọi đường lối (c. 17a).
Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Ðáp.
2) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài. - Ðáp.
3) Ðể con cái loài người nhận biết quyền năng, và vinh quang cao cả nước Chúa. Nước Ngài là nước vĩnh cửu muôn đời, chủ quyền Ngài tồn tại qua muôn thế hệ. - Ðáp.
4) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. - Ðáp.

* * *

Alleluia: 1 Ga 2, 5
Alleluia, alleluia! - Ai giữ lời Chúa Kitô, thì quả thật tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 4, 31-37
"Tôi biết Ngài là ai rồi, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thành Capharnaum, xứ Galilêa, và ở đó Người giảng dạy họ trong các ngày Sabbat. Người ta bỡ ngỡ về giáo lý của Người, vì lời giảng dạy của Người có uy quyền. Bấy giờ trong hội đường, có một người bị quỷ ô uế ám, thét to lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, giữa chúng tôi và Ngài có chuyện chi đâu? Ngài đến tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai rồi, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Nhưng Chúa Giêsu trách mắng nó rằng: "Hãy câm đi và ra khỏi người này". Và quỷ vật ngã người đó giữa hội đường và xuất khỏi nó, mà không làm hại gì nó. Mọi người kinh hãi và bảo nhau rằng: "Lời gì mà lạ lùng vậy? Vì Người dùng quyền năng mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải xuất ra". Danh tiếng Người đồn ra khắp nơi trong xứ.
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm:
Bài Tin Mừng hôm nay, thánh Luca nhằm giới thiệu cho chúng ta sức thu hút và uy quyền của Lời Ðức Giêsu. Trước lời giảng dạy của Ðức Giêsu, dân chúng kinh ngạc, lạ lùng về giáo huấn khác thường của Ngài. Cũng chính từ lời Ngài có sức mạnh khiến thần ô uế phải nhào xuống và ra khỏi bệnh nhân. Vì Ðức Giêsu là Thiên Chúa nên lời của Ngài có sức cảm hóa phi thường.

Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, lời Chúa đã đem lại sự phấn khởi kính phục đối với dân chúng xưa. Lời Chúa khiến thần ô uế phải khiếp sợ và vội vàng xuất khỏi con bệnh.
Lời Chúa hôm nay vẫn tiếp tục đem sức mạnh cho Giáo Hội, hoán cải các tâm hồn lầm lạc, chỉ đường dẫn lối cho những người thiện tâm. Xin cho chúng con biết cởi mở tâm hồn đón nhận Lời Hằng Sống, để sinh lực của Chúa luôn tuôn tràn trong chúng con. Amen.

Gừng tươi "thần dược" chữa bệnh hắt hơi

Có một loại “thần dược” sau khi dùng 2 phút là cắt cơn hắt hơi dữ dội, cho phép người bệnh lại tiếp tục bữa ăn như thường. Đó là miếng gừng tươi đã cạo sạch vỏ.
Những người có bệnh viêm mũi dị ứng hoặc dị ứng thời tiết, thường bị hắt hơi rất dữ dội (cả 4 mùa) khi bị lạnh đột ngột. Hắt hơi nguy hiểm nhất là khi ăn, vì thức ăn có thể chui vào đường thở gây sặc. Trong bữa tiệc, hắt hơi có thể làm phiền người khác do thức ăn bắn ra dính vào quần áo của họ.
Nếu dùng các loại tân dược chống dị ứng, loại tác dụng nhanh nhất là cetirizin, sau khi uống thuốc 30 phút mới có tác dụng (loratadin 90 phút, fexofenadin 120 phút, chlopheniramin maleat 150 phút mới có tác dụng).
Trong trường hợp này, cho người bệnh “nhai ngấu nghiến” 1 miếng gừng tươi (khoảng 3 – 5g) rồi nuốt. Các hoạt chất bay hơi của gừng tươi có tác dụng kháng histamin tức thì, sẽ cắt cơn hắt hơi. Sau đó người bệnh đi rửa tay, rửa miệng, rồi tiếp tục bữa ăn. (Gừng tươi là thức ăn quen thuộc nên không ảnh hưởng đến mùi vị các món ăn như các loại tân dược chống dị ứng).
Ưu điểm của miếng gừng tươi: tác dụng cắt cơn hắt hơi rất nhanh (gấp 15 lần so với cetirizin, 60 lần so với fexofenadin); an toàn cho người bệnh, do không có tác dụng phụ (khô miệng, chóng mặt, nhức đầu mệt mỏi) như các loại tân dược chống dị ứng kể trên; giá lại cực rẻ (200 lần so với cetirizin, 900 lần so với fexofenadin).
Nhược điểm của gừng tươi: một số người chưa quen dùng vì sợ cay, những người này phải “dũng cảm lắm” mới dám nhai ngấu nghiến miếng gừng.
Để phòng thân, người có chứng “dị ứng thời tiết” khi ra khỏi nhà nên đem theo mấy lát gừng vàng đã cạo sạch vỏ để sử dụng khi cần.
DS. Trần Xuân Thuyết

Vài thực phẩm tẩy độc và thanh lọc cơ thể


1. Đậu xanh. Mùa hè nóng bức, ăn chè đậu xanh để giúp thanh nhiệt, giải độc. Đậu xanh có thể giải “bách độc” như: ngộ độc kim loại nặng, ngộ độc thuốc, ngộ độc thực phẩm... giúp tăng tốc chất độc trong cơ thể chuyển hóa đào thải, xúc tiến xổ độc từ bên trong cơ thể ra ngoài.
2. Nấm mèo đen chứa một chất keo đặc thù, có sức bám hút hơi mạnh, giúp hút bụi than và tạp chất lưu lại trong hệ tiêu hóa và hô hấp rồi tống ra ngoài cơ thể. Đây là thức ăn không thể thiếu cho người hành nghề dạy học, dệt vải, xây dựng, những người thường xuyên sống trong môi trường khói bụi và hút thuốc lá.
3. Tỏi có mùi vị khiến nhiều người không thích, tuy biết nó có ích cho sức khỏe. Tỏi là “siêu sao” xổ độc.
4. Bí rợ có nhiều pectin, chất này sau khi vào cơ thể, có thể kết dính chung với cholesterol thừa, rồi bài chúng ra ngoài cơ thể.
5. Khóm (dứa) có tác dụng giải độc rượu, chống khô miệng, chóng mặt váng đầu sau khi uống rượu.
6. Bí đao có tác dụng lợi tiểu, giúp xúc tiến xổ độc cơ thể thông qua đường tiểu.
7. Cà rốt. Thủy ngân là một kim loại nặng có độc, tích đọng trong cơ thể, không dễ bài ra. Cà rốt có hiệu quả giảm hàm lượng thủy ngân trong máu, bài ra ngoài cơ thể chất độc kim loại nặng.
8. Rau cần chứa nhiều chất xơ, xúc tiến nhu động đường ruột, xúc tiến đại tiện bài độc ra ngoài. Hơn nữa còn giúp giảm cholesterol, có tác dụng giảm huyết áp thấy rõ.
9. Nước là “chất vận chuyển” bài độc tốt nhất, có thể làm loãng độc tố, hơn nữa theo thể dịch tuần hoàn, mang độc tố ra ngoài. Hằng ngày nên uống 8 ly nước. Tốt nhất mỗi sáng ngủ dậy uống 1 ly nước.
Rất nhiều thức ăn ngon, vì cần chế biến đẹp hơn, hay cần thời gian bảo quản lâu hơn, hay tạo mùi vị độc đáo hơn, người ta thường thêm vào sắc màu, hương liệu, chất chống mốc... Những thứ tạo sự khoái khẩu cho chúng ta lại là “độc tố” đối với cơ thể. Cho nên, một trong những biện pháp xổ độc quan trọng nhất là dự phòng, bằng việc mỗi ngày nên dùng thực phẩm thiên nhiên, không chế biến nhiều...

Theo Lương y Bàng Cẩm